Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Gắn nghiên cứu căn lạ lẫm bản với khai triển vận dụng vào thực tiễn đời sống.

Đặc biệt, tro bay (làm phụ gia) được nghiên cứu, sản xuất từ xỉ than thải của các nhà máy nhiệt điện của IMS đã phục vụ thiết thực cho xây dựng công trình thủy điện Sơn La trên sông Đà

Gắn nghiên cứu cơ bản với triển khai ứng dụng vào thực tế đời sống

Nghiên cứu về nguyên liệu truyền thống và nguyên liệu mới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) có các đơn vị như Viện Khoa học vật liệu vận dụng tại TP Hồ Chí Minh, Viện Hóa học, Viện Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang cũng như một số khoa thuộc các Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Bách khoa Hà Nội.

Biên chế ở 26 mai dong phòng, trung tâm và doanh nghiệp, IMS tụ họp vào các lĩnh vực nguyên liệu và linh kiện điện tử, vật liệu và linh kiện quang học, quang điện tử và quang tử; nguyên liệu kim loại và nguyên liệu tổ hợp; vật liệu và công nghệ Na-nô; vật liệu có tính năng đặc biệt (siêu cứng, chịu mài mòn, chịu nhiệt độ cao).

Đến nay, tuy chưa đạt được thành tựu lớn, song IMS đã chủ động nguồn mẫu cho nghiên cứu căn bản và các nghiên cứu định hướng vận dụng trong nông - y - sinh vật học, năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường.

Riêng sản phẩm máy phát thủy điện nhỏ với ba loại công suất 200W, 500W và 1. Phân viện khoa học nguyên liệu tại TP Hồ Chí Minh khoảng 10 năm trở lại đây, đã nghiên cứu thành công công nghệ chế tạo nhiều loại vật liệu vận dụng có hiệu quả hoặc có triển vọng áp dụng rộng rãi.

Công nghệ Na-nô, một lĩnh vực còn non trẻ ở nước ta, nhưng viện đã đi tiền phong nghiên cứu cách đây hơn 10 năm do sự đề xướng của GS, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu. Trong đó, phải kể đến các nguyên liệu xúc tác xử lý khí thải, vật liệu Aluwat xử lý nước sinh hoạt bị nhiễm ô-xít sắt; thiết bị lọc nước mặn thành nước ngọt bằng phương pháp thẩm thấu ngược phục vụ đời sống của người dân khu vực Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Mặt khác, IMS vinh dự được Đảng, Nhà nước hai lần trao tặng giải thưởng quốc gia về khoa học và công nghệ cũng như nhiều giải VIFOTEC. Song song, mở rộng hoạt động nghiên cứu về công nghệ tuyển khoáng, công nghệ chế biến tinh khoáng sản để nâng cao giá trị mặt hàng xuất khẩu. Sinh sản nguyên liệu pô-li-me phục vụ sinh sản nông nghiệp tại Viện Hóa học.

Nhưng kết hợp nhịp nhàng giữa nghiên cứu căn bản, đào tạo nhân công chất lượng cao và triển khai vận dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh thì Viện Khoa học nguyên liệu (IMS) làm được nhiều việc hơn cả.

Nhất là quan hoài việc tìm ra vật liệu hấp phụ cấu trúc Na-nô để xử lý ô nhiễm nước sinh hoạt, nguyên liệu xúc tác Na-nô hoạt động ở vùng nhiệt độ thấp dùng xử lý ô nhiễm môi trường khí. Ở mảng nguyên liệu truyền thống các nhóm nghiên cứu của IMS đi sâu phát triển các nghiên cứu về kim khí, hợp kim có tính năng đặc biệt (như siêu cứng, chịu mài mòn, chống chịu nhiệt độ cao).

GS, TS Nguyễn Quang Liêm, Viện trưởng IMS cho biết: Kể từ năm 2008, viện mở mang lĩnh vực nghiên cứu, hình thành được một số nhóm khoa học khá mạnh, vừa nghiên cứu căn bản định hướng ứng dụng, vừa coi trọng tổ chức triển khai và chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đời sống. NGUYỄN KHÔI. Cùng với nghiên cứu căn bản, Viện đã tích cực triển khai vận dụng các kết quả nghiên cứu vào sinh sản, kinh doanh.

Viện đã và đang thực hiện 51 đề tài nghiên cứu căn bản thuộc quỹ phát triển khoa học - công nghệ quốc gia (NAFOSTED); gần 20 đề tài thuộc bảy hướng ưu tiên của VAST, và một số đề tài, dự án hiệp tác quốc tế theo Nghị định thư. Gần đây nhất (năm 2011 - 2012) IMS là đơn vị chủ trì dự án cộng tác quốc tế về kỹ thuật chiếu sáng hà tằn hà tiện năng lượng được triển khai tại khá nhiều địa phương trong cả nước.

000W không chỉ được sử dụng cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao Bắc Cạn, Lào Cai mà còn được một tổ chức nhân đạo quốc tế hợp đồng sản xuất hàng nghìn máy để cung cấp cho các vùng khó khăn ở châu Á và châu Phi.

Chả hạn như nghiên cứu cấu trúc, thuộc tính quang điện tử và quang tử, thuộc tính điện - từ của các loại vật liệu.

Với sự nỗ lực không ngừng trong nghiên cứu và sáng tạo, từ năm 2005 đến nay, đội ngũ cán bộ của IMS đã có hơn 200 công trình khoa học được ban bố trên các tập san quốc tế có uy tín. Từ năm 2006, nhất là năm năm gần đây, hàng ngũ của IMS đã khai triển, thực hiện 20 đề tài cấp Nhà nước thuộc các chương trình khoa học và công nghệ trọng tâm, chương trình nghiên cứu cơ bản định hướng áp dụng.

Với nguồn nhân công khoảng 300 người, trong đó có hơn 20 GS và PGS, ba TSKH, hơn 60 TS. Đó là nghiên cứu, chế tác nam châm đất hiếm NdFeB áp dụng vào sinh sản máy phát thủy điện nhỏ và các máy tuyển từ được dùng khá rộng rãi trong công nghiệp sinh sản nguyên liệu ở nước ta.

Nhờ có phòng thí điểm trọng điểm quốc gia về nguyên liệu và linh kiện điện tử (đầu tư 55 tỷ đồng), IMS khai triển, thực hiện các nghiên cứu về nguyên liệu mới, nguyên liệu tiên tiến mà trong nước và thế giới quan hoài.

Từ đây, IMS đang thúc đẩy các hoạt động cấp thiết để sớm thành lập một trung tâm khoa học và công nghệ Na-nô tiền tiến đạt trình độ khu vực và quốc tế, theo chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam thời đoạn 2011 - 2020 như Thủ tướng Chính phủ đã ưng chuẩn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét