Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Bạc mặt với nghề chạm bạc

Và cũng thật hiếm hoi để tìm cho được một đôi nghệ nhân ở phố Hàng Bạc còn gắn bó với nghề.

Bỏ nghề, làm dịch vụ

Dạo qua phố Hàng Bạc hiện, chẳng cần phải tinh mắt người lạ cũng dễ nhận ra những cửa hàng vàng bạc lớn nhỏ khác nhau. Nhưng thật hiếm tìm được một cửa hàng nào có thể chế tạo được những vật trang sức tinh tế thời xưa như vòng hoa đậu, hoa huế hay xuyến cổ. Nghe đâu tuốt tuột các cửa hàng vàng bạc ở con phố ấy bây chừ chỉ làm theo đơn đặt hàng giản đơn như nhẫn hay dây chuyền.

Đem câu hỏi còn nhiều ngờ vực ấy đến nghệ nhân Phạm Thị Hồng, bà Hồng mỉm cười bảo: "Đúng đấy, bây chừ cả phố bỏ nghề bạc rồi, họ chuyển hết sang làm dịch vụ nên rất khó tìm được ai đó làm được những vật dụng trang sức tinh tế như ngày xưa. Tôi đã ở đây gần hết thế cục, gắn bó với nghề chạm bạc bao nhiêu năm nay nên tôi hiểu, làm dịch vụ đơn giản nhưng lãi cao gấp nhiều lần so với việc chuyên chú chế tạo đồ trang sức".

Nói rồi, bà Hồng dẫn chúng tôi vào nhà gặp chồng là ông Phạm Đình Dậu - một nghệ nhân chạm bạc nổi danh Hà Thành. Ông Dậu năm nay đã bước sang tuổi 81, khuôn mặt của ông đã gầy rộc đi sau những ngày tháng chống chọi với bệnh tật. 5 năm qua, sau cơn đột quỵ cũng là khoảng ấy thời kì ông nằm yên một chỗ. Khu bếp khò dùng để chế tạo vàng bạc đã giá ngắt, không còn nữa những tiếng đục, tiếng khò.

Lửa lò chạm bạc của nghệ nhân Phạm Đình Dậu đã tắt ngấm từ lâu.

Ông Dậu cố gượng dậy nhìn tôi, cất tiếng: "Lâu lắm nhà mới có khách hỏi về nghề chạm bạc. Tôi nói cho anh hay, cái nghề chạm bạc mà tổ tiên chúng tôi đưa về con phố này chẳng còn ai khẩn thiết nữa đâu. Họ buôn bán sung túc hơn, tội gì cắm cúi vào cái lò cho lửa nó đốt. Tôi đã trên 70 năm gắn bó với nghề rồi. Nghề này độc hại lắm, không giản đơn như các anh hình dung đâu".

Quả tình, ngôi nhà nhỏ tí xíu và tối như hũ nút ở phố Hàng Bạc này đã qua bao đời thăng trầm với nghề chạm bạc. Những lọ axit, chất hóa học la liệt trong một cái tủ lớn là vật dụng dùng để chế tạo vàng bạc. Ông Dậu thành thật, nhiều lần con cái ông muốn biến cửa hàng chạm bạc thành nơi buôn bán vàng bạc nhưng vợ chồng ông không đồng ý. Vì với những nghệ nhân như ông Dậu, bà Hồng, nghề mà họ gắn bó bao giờ cũng vẻ vang, là thứ nghề cao quý phục vụ vua chúa, họ không chẳng lẽ bỏ nghề cha truyền con nối để kiếm tiền dù là dễ dàng.

Và duyên do mà bà Hồng đưa ra để giảng giải cho câu hỏi vì sao các nghệ nhân ở con phố Hàng Bạc bỏ nghề xem ra rất giản đơn nhưng đầy tréo ngoe: "Các nghệ nhân có tuổi, người thì chết, người thì bán nhà chia cho con cháu, người thì bỏ phố về quê nên những người làm bạc giỏi không còn nữa. Con cháu họ được tiếp nhận nhà nhưng không kết nạp nghề nên cửa hàng chạm bạc cũ vì một dễ thường đó trở nên nơi buôn bán".

Nghệ nhân Phạm Thị Hồng với sản phẩm bạc truyền thống.

Làm bạc bằng 2 sợi tóc

Ở phố Hàng Bạc, ngoài vợ chồng nghệ nhân như ông Dậu bà Hồng thì nghệ nhân Nguyễn Chí Thành cũng là một trong những người hiếm hoi còn sót lại với nghề chạm bạc. Ông Thành nổi tiếng với những đồ trang sức đẹp mắt thời thượng nhưng ông vẫn muốn quay lại với mặt hàng cổ kính hơn nhiều. Bên góc bàn nhỏ hẹp ở số nhà 83, ông thủ thỉ: "Tôi theo nghề từ năm 16 tuổi, giờ đã trên 60 rồi, tiên tổ tôi người làng Định Công, trước đây họ tụ hội ở phố này nhiều, toàn thợ giỏi nhưng giờ vắng bóng hết".

Theo cha học việc từ nhỏ nên ông Thành thông tõ hết các ngón nghề. Nghề bạc có nhiều bí quyết nên cũng phân ra nhiều cấp độ thợ. Ông Thành bây chừ đã đạt tới mức thượng thừa về bạc, ông có thể chế tạo những vật dụng siêu nhỏ chỉ bằng thủ công, không cần máy móc can thiệp mà sản phẩm vẫn rất tinh tế, bởi thế khách đến với ông cũng không phải là ít.

Nghệ nhân Phạm Thị Hồng cũng không phải là kém, bà khẳng định có thể chế tạo bạc bằng hai sợi tóc. Từ hai sợi tóc ấy, bà Hồng dùng làm "móc" chế tạo ra vòng xuyến cổ có các khấc đẩy lên đẩy xuống tùy kích cỡ khách hàng yêu cầu. Bí quyết này bà Hồng học lóm được từ người thầy năm xưa.

Bà Hồng cho hay: "Cả hai vợ chồng tôi đều là người Châu Khê (Bình Giang, Hải Dương), cứ đến tuổi lại được các cụ cho xuống phố Hàng Bạc học nghề tiên sư cha, thế rồi thành thợ lúc nào chẳng hay. Mà lại các thầy cũng giấu nghề ghê lắm, học trò phải tự tìm ra một đôi bí quyết thì mới giỏi được".

Theo các nghệ nhân ở phố Hàng Bạc, nghề chạm bạc ngày trước ở phố cổ rất có uy tín nên con phố nhỏ lúc nào cũng rộn rịch khách. Nghề chạm bạc xưa là nghề cao quý, đề nghị người thợ phải có kiến thức, khéo tay và óc thẩm mỹ nên không phải ai muốn theo nghề là được, mà buộc phải là con nhà nòi.

Đình Kim Ngân thờ tổ nghề chạm bạc.

Còn lại nỗi khổ

Nghệ nhân Nguyễn Chí Thành nhẩm tính, giờ ở phố Hàng Bạc chỉ còn lại khoảng 4 - 5 nghệ nhân, trong số đó một nửa đã nghỉ vì sức khỏe yếu. Số còn lại cũng hoi hóp với nghề, hoặc làm cầm chừng mà thôi.

Nghệ nhân Phạm Thị Hồng ngồi nhặt rau muống trước cửa hàng, chỉ tay sang phía bên kia đường ở số 42 là ngôi đình Kim Ngân thờ tổ nghề chạm bạc. Ngôi đình đẹp viên mãn, được xác nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Đình thờ Hoàng đế Hiên Viên, một nhân vật thần thoại tổ nghề của bách nghệ. Bà Hồng thở dài: "Đình tổ nghề vẫn hiên ngang nằm đấy mà nghề chạm bạc đã vắng bóng phố cổ rồi. Biết sao được, thời thế thay đổi nên con người cũng phải thay đổi".

Trong một ngách nhỏ ở số 114, người đàn bà tóc trắng như mây tên là Hoàng Thị Khuê - một nghệ nhân hiếm hoi gốc Hà Nội còn sót lại trầm buồn lẫn những thảng thốt: "quang vinh bao lăm thì lụi tàn bấy nhiêu, không trách được những người bỏ nghề đâu. Nghề chạm bạc đã khiến cả dòng họ tôi bạc mặt vì nghề. Tôi cũng nuối tiếc cho thứ nghề gia truyền ấy lắm nhưng bất lực, không cứu vãn được gì. Chỉ nỗi khổ cực đáu với nghề là mãi mãi ở lại".

"Gia đình có mấy anh chị em, theo luật tục nghề chạm bạc thì con gái không được truyền nghề. Tôi cũng theo nghề của thánh sư nhưng khó quá, thị trường ưa thích những sản phẩm hào nhoáng bên ngoài mà quên đi sự tinh tế của đồ trang sức. Nói thật là tôi không muốn theo nghề nữa, nghề bạc lắm nhưng vì tiên sư cha đã truyền lại thì tôi buộc phải theo, không có khẩn thiết gì hết".

Anh Nguyễn Đức Cường (con trai nghệ nhân Phạm Thị Hồng)

"Trần giới người ta đua nhau nhập kiểu dáng vàng bạc về rồi tự chế tạo bằng máy móc nên nghề chạm bạc thủ công như chúng tôi không thể tồn tại được. Nỗi khổ của những nghệ nhân là ngồi xem nghề bị mai một, bị thị trường lấn lướt mà bất lực. Đấy, anh xem ở phố Hàng Bạc này còn mấy ai làm chạm bạc cổ truyền nữa không? Không lâu nữa đâu, dăm năm nữa là nghề này về nơi thiên cổ".

Nghệ nhân Phạm Đình Dậu

Trần Hòa


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét